Thứ Hai, 11 tháng 3, 2013

Cửa Sập



                             Cửa Sập.
                                                                                      Lê Duy Đoàn
Đề tài  này tôi viết đã lâu nhưng bản thảo bị thất lạc. Bài viết lúc  ấy  chỉ  kể lại chuyện gia đình tôi đã trải qua nạn lụt năm 1953 như thế nào mà thôi, giống như chuyện " trời hành cơn lụt mỗi năm" của vài người Huế. Viết lại bài này tôi có thêm phần đính chính những điểm sai của một số bài viết của các tác giả khác viết về những cái cửa của kinh thành Huế bị sập
 
1. Sửa lại cho đúng:
Bài viết " Kinh thành Huế có bao nhiêu cửa ?" của tác giả Nguyễn văn Liêm đăng trên trang " dulichhue.com.vn" ngày 19/8/2012 và trang " iHue.org" ngày 4/11/2012  rất hay. Bài viết có nhiều hình minh họa rõ ràng và nhiều chi tiết về số lượng cửa , vị trí địa lý , lịch sử xây dựng, lý do bị hủy hoại và năm trùng tu . Bài viết ngắn gọn, súc tích và thú vị. Qua đó, người đọc biết thêm được nhiều điều về kinh thành Huế, một di sản văn hóa thế giới  được Unesco công nhận ngày  11 tháng 12 năm 1993.
 Nhưng tiếc thay, mặc dù đăng trên trang mạng chính thức của ngành du lịch Huế và được nhiếu trang khác đăng lại , nhưng bài viết có nhiều điểm sai . Những người phụ trách trang " iHue.org" và " dulichhue.com.vn" đã không biết là sai nên cứ đăng bừa như thế.

 Dưới đây là 3 đoạn sai trong bài viết nói trên của tác giả Nguyễn văn Liêm:
Phía bên phải di tích Kỳ Đài là Cửa Quảng Đức nằm ở mặt Nam của Kinh Thành, chỉ lưu thông một chiều từ hướng đường Lê Duẩn vào đường 23/8. Phần cửa vòm được xây dựng vào năm 1809, dưới thời vua Gia Long, vọng lâu được xây dựng vào năm 1829, thời Minh Mạng. Trận lụt năm 1953, đã quét sập đổ hoàn toàn bộ phận vòm cửa và vọng lâu, vì thế dân chúng vẫn quen gọi là cửa Sập.
Cửa Hữu, có tên chữ là Tây Nam Môn, nằm ở phía Tây Nam của Kinh Thành, ở đầu đường Yết Kiêu. Phần cửa vòm, được xây dựng vào năm 1809, dưới thời vua Gia Long, vọng lâu được xây dựng năm 1829 thời Minh Mạng. Đêm mồng 5/7/1885, vua Hàm Nghi đã xuất bôn từ cửa này ra khỏi Kinh Thành, để ban hịch Cần Vương. Chiến sự năm 1968, đã làm sập vọng lâu và vòm cửa.

"Cửa Chánh Tây nằm ở phía Tây Kinh Thành, trên đường Thái Phiên, TP Huế. Phần cửa vòm được xây dựng vào năm 1809, dưới thời  vua Gia Long, vọng lầu bên trên được xây dựng năm 1829, dưới thời vua Minh Mạng.Trong chiến sự năm 1968, nơi đây từng là cửa ngõ giao tranh ác liệt, cửa bị tàn phá hoàn toàn phần vọng lầu phía trên, sau đó bị cấm đi lại."

Như vậy, Ông Liêm cho rằng Cửa Hữu và cửa Chánh tây đồ sập do bom đạn trong chiến sự năm Mậu thân 1968 và cửa Quảng Đức được gọi là cửa sập.
 Nếu không ai chỉ ra những điểm sai trong bài viết nói trên thì những điều tác giả Nguyễn văn Liêm đã viết sẽ đương nhiên được xem là sự thật . Thông tin sai lạc  đó không nên có trong một thành phố du lịch và di sản như Huế. .
Tác giả  không biết rằng 2 cửa Hữu và cửa Chánh tây đã sập đổ đồng thời với 2 cửa Ngăn trên ( cửa Quảng đức) và cửa Nhà Đồ trong trận lụt kinh hoàng năm 1953 chứ không phải là sập đổ vì chiến sự năm 1968.
 Cửa Sập dùng để gọi của Nhà Đồ chứ không phải  gọi cửa Quãng Đức  . Thế hệ U70 chúng tôi dù là người  hoang đàng hay không hoang đàng đều biết danh cửa Sập. Tên gọi đó gắn liền với hai động  nhền nhện ngay gần sát cừa Nhà Đồ.
Cách đây hơn hai năm, để chắc chắn điều mình nói là đúng, tôi gửi mail cho Thầy Võ văn Dật, (viết văn với bút hiệu Võ Hương An ), nguyên là giáo sư trường Trung học Hàm Nghi Huế, để hỏi chuyện này,vào ngày thứ năm, 28/10/ 2010 .
Kính Thầy,
Tôi là Lê Duy Đoàn, bạn thân của Trần Kiêm Đoàn. Tôi học Quốc Học chứ không học Hàm Nghi nên không học Thầy. Dù vậy, tôi vẫn trân trọng gọi Thầy là Thầy vì Thầy xứng đáng đượcgọi như thế.
Có một điều tôi đang viết về lụt 1953 nên muốn xin hỏi Thầy là có phải 3 cửa Chánh Tây, Cửa Hữu, và cửa Sập đều bị nước lụt làm sập năm đó phải không? Có cửa nào bị sập vì lụt 53 nữa?
Kính,
Lê Duy Đoàn

Ngày thứ sáu 29/10/ 2010 , Thầy Dật trả lời:
Thưa anh Đoàn,
 Đúng là có 4 cửa bị sập vì nằm trên đường chảy của nước trên nguồn đổ về: cửa Chánh Tây, cửa Hữu tức Tây Nam, cửa Chánh Nam tức Nhà Đồ và cửa Quảng Đức.
Xin nóí rõ hơn một chút: lấy Cột cờ làm chuẩn, thì cửa bên trái Cột cờ (từ trong nhìn ra) là cửa Ngăn, có tên chính thức là Thể Nhơn.  cửa bên phải Cột cờ là Quảng Đức.  Cửa naỳ xưa, thời còn vua, chỉ dành cho các bà thuộc Nội cung vô ra, đặc biệt ra hóng mát sông Hương, thường xuyên đóng, dân chúng không được sử dụng, vì vậy ngay cả người Huế cũng lắm người không biết cửa naỳ tên gì.
Sau trận lụt năm Tỵ (1953) xuất hiện một tên mới : cửa Sập.  Vậy cửa Sập là cửa nào?
Đa số sách báo nóí cửa Sập là cửa Quảng Đức, theo tôi, là sai.  Dân Cầu Đất thời ấy đều biết cửa Sập là dùng chỉ cưả Nhà Đồ.
 Xin cảm ơn cảm tình anh đã dành cho.  Rất mong được đọc bài viết của anh để có dịp nhớ lại Huế mình. Kính thăm.WD (đây là chữ ký tắt của tôi cuối thư để bà con bạn bè nhận diện không phài hacker).
 Hơn hai năm sau lần trao đổi mail với Thầy Dật, tôi mới viết bài này.

                                         *          *
2. Cửa Hữu bị sập lúc nào? Vì sao bị sập ?
Năm 1951, ba tôi thấy sống ở vùng quê tôi (xóm Đông an. làng An ninh hạ) không an toàn nên đã  quyết định đưa gia đình tôi di chuyển về ở nhờ trên đất khu vườn rộng của ông ngoại tôi ở bên ngoài cửa Hữu, thuộc phường Phú thạnh, thành phố Huế.
Ba tôi đem cái khung nhà rường ba gian hai chái trên quê về dựng làm chỗ trú ngụ, mái nhà lợp tạm bằng tranh .
Đường bên ngoài cửa Hữu ( bây giờ là đường Yết kiêu nối dài) là một  đoạn đường ngắn chỉ có mấy nhà. Nhà tôi cách bờ hồ chừng 20 mét. Phía phải từ trong cửa nhìn ra lần lượt là nhà Bác Mão, nhà tôi, Dì Hòa, Chú Hạn và anh Mừng. Phía bên đối diện, là nhà Bác Dần, Bác Bá, Bác Gà, Bác Tri, và đầu đường sát quốc lộ 1 là nhà Ông Út. Lúc đó, phường Phú thạnh dân cư còn thưa thớt. Từ cầu Giả viên cho đến cầu An hòa phía cận hồ , những ngôi nhà có  khu vườn rộng nối tiếp nhau. Trước năm 1975, tôi có thể kể tên từng nhà nằm ở mặt tiền đường từ cầu Giả viên cho đến tận cầu An hòa.
Bên kia đường ray xe lửa,phía bờ sông Bạch yến, nhà cũng có vườn nhưng nhỏ hơn phía bờ hồ nhiều.
Đoạn đường từ cầu Giả viên xuống đến vườn hoa Phú vân lâu vẫn còn nhà đông đúc ở hai bên đường mãi đến năm 59. 60 mới dời vào định cư trong phường Tây lộc. Hầu hết là nhà trệt xây dựng tạm bợ.

Ngày 21-9-1953. Thành phố Huế.
Trời mưa không dứt đã mấy ngày. Mây thấp, trời xám xịt.  Mưa từng đợt kèm gió táp. Người trong nhà cũng thấy lạnh. Người đi ngoài đường bị mưa gió đẩy liêu xiêu. . Hai  ngày qua  nước dâng lên chậm.  Cho  đến chiều hôm đó, nước chưa lên tới bợt hồ trước cửa Hữu. ( Nói là hồ vì người Huế quen gọi như thế, thật ra đó là hào hộ thành).
  Khi nước nguồn đổ, nước chảy cuồn cuộn trên dòng sông Hương, xoáy dưới chân cầu. Nước cuộn vào sông Bạch yến rồi đổ vào hồ . Người ta không biết vì sao những cây khô, cây cháy và củi rều lại trôi trên sông nhiều như thế.
Ba tôi đi một vòng ra  cầu Giả viên, đứng trên cầu nhìn xuống nước chảy hung hản bên dưới, nói với mấy người bạn :” Sợ lụt to đây.”.
Nhà tôi vừa mới trên quê xuống phố, việc mưu sinh của Ba mẹ tôi lúc đầu khá vất vả nhưng nhờ Trời thương và nhiều người giúp đở nên cuộc sống cũng dần khá lên. Trong nhà chưa có vật dụng chi nhiều. Gian giữa có một tủ thờ và bộ bàn ghế chạm trổ cũng đem từ quê lên. Một cái phản ngựa gõ kê sát cửa sổ bên trái phía trước là đáng giá . Ba tôi nằm ngủ với tôi trên đó. Một cái giường trong phòng kín để Mẹ tôi và em bé thứ tư mới sinh nằm . Em bé chưa đầy 4 tháng. Một cái sập bằng gỗ chạm trổ  Bà nội tôi nằm với em gái kế và em trai thứ ba của tôi.
Ba tôi nhờ người phụ giúp  đưa hơn chục bao thóc lên cao. Số thóc vừa được người bà con chở xuống giao cho Ba tôi chỉ mấy ngày trước đó. Gia đình tôi có mấy sào ruộng cho người trên làng làm rẻ ( cách gọi của người Huế, chỉ việc làm ruộng trên đất của ai đó tới mùa chia một phần huê lợi cho họ).

Con nít như tôi, thấy nước bạc dâng lên thì thích, đâu biết là người lớn lo trong bụng thế nào !Trên cái cống ngoài cửa Hữu, cả hai bên thành cống, người ta đặt 5 cái rớ ( người Bắc gọi là vó),  Năm ấy, người cất rớ, bắt được nhiều cá, đặc biệt là có rất nhiều cá gáy. Mỗi lần cất rớ lên mà có nhiều cá lớn là những người đứng coi la lên rầm trời. Cho tới sập tối người ta cũng còn phấn khích vói chuyện bắt được nhiều cá to. Hầu như mọi người đều nghĩ trong bụng lụt lội năm ni chẳng có chi đáng lo.
Có một việc đặc biệt tôi muốn nói ở đây. Cửa Hữu và các cửa khác của kinh thành Huế đều có hai cánh cửa gỗ to lớn với khung cửa và những thanh đố ngang dọc rất chắc chắn, cao đền gần vòm cửa. Mỗi buổi chiều, cứ đến 5 giờ, cửa Hữu đươc đóng lại và khóa bằng sợi xích và cái khóa to tướng.
Tôi nghe Ba tôi nói lại là cửa Chánh tây, cửa Nhà Đồ và cửa Quãng Đức cũng bị đóng và khóa tương tự như cửa Hữu.  Năm đó tình hình chính trị và quân sự rất căng thẳng và phức tạp.  Người ta đóng mấy cái cửa thành vì sợ sự xâm nhập của Việt minh vào thành nội từ Vạn xuân qua bến đò Kẻ vạn  và từ Kim long hậu thôn qua bến đò Ba bến.
Chiều hôm đó, tôi đội nón dầm mưa ra ngoài cống Cửa Hữu coi người ta cất rớ và xem chừng nước lớn đến đâu. Khi Ba tôi kêu vô nhà ăn cơm chiều thì người tôi ướt sũng. Hơ lửa than của Mẹ cho ấm, ăn một bụng cơm no nê rồi tôi lên phản ngựa nằm ngũ một giấc say sưa không biết trời trăng chi nữa.
Nữa đêm, tôi giật mình khi nghe cạch một tiếng rồi có tiếng rẹt rẹt, tôi mơ màng mớ ngũ mở mắt nhìn quanh. Một vịt dầu leo lét để ở góc phản, xung quanh tối om. Tiếng Ba tôi :” Dậy đi con”.  Định thần nhìn kỹ, tôi thấy một cái mũi ghe câu áp sát phản tôi nằm. Hèn chi có tiếng rẹt rẹt khi ghe cặp sát vào phản. Nước tràn lên phản làm ướt lạnh lưng tôi. Thì ra, lúc tôi ngũ quên thì Ba tôi cùng đi với Cậu Cháu ( anh ruột Mẹ tôi) dùng ghe câu di tản những người khác đi hết cả rồi. Bây giờ trở lại đón tôi cuối cùng thì nước lụt đã dâng lên nhanh và cao xấp xấp mép phản ngựa tôi ngũ rồi. Chỉ chậm một chút nữa nước dâng lên ngập chắc chắn tôi chẳng biết xoay xở làm sao đành phải  “ xuôi tay cho Mệ nuốt “ thôi.
Nước đã tràn qua đường ray và quốc lộ 1 từ hồi nào rồi. Trong đêm tối, nghe tiếng nước mưa, tiếng nước  chảy trên đường tôi nghe cả cơn cuồng nộ của thiên nhiên xuống thành phố Huế.
Chiếc ghe di chuyển chậm chạp trong bóng tối nhờ nhờ chập choạng tôi vẫn cảm nhận sức nước chảy ào ạt cuồn cuộn bên dưới ghe.
Chiếc ghe câu nhỏ bị sức nước đẩy đi như muốn lật úp. Ba tôi phải nhảy xuống làn nước lụt lạnh giá đẩy ghe trong vườn nhà người ta . Đáng lý đưa tôi đến nhà Mệ Viên Dép ( một biệt thự gần Cống Thủy quan, có vườn rộng, đất cao nước lụt chưa lên tới) cùng với gia đình tôi đang trú ngụ ở đó, ba tôi đưa ghe ra đường quốc lộ  lại  tạt ghe vào nhà Bác Phẩm, một người làng tản cư xuống Phú Thạnh làm nghề guốc.
Trước mặt nhà Bác Phẩm là khu vườn của ông ngoại tôi.Từ nhà Bác Phẩm, Ba tôi  có thể quan sát nhà tôi ( gần nhà mà xa cửa ngỏ). Hầu hết nhà trong khu tôi ở, nước có vẻ như chấm mái. Ngay chỗ nhà Bác Phẩm nói là chỗ cao nhưng đến sáng hôm sau, nước cũng lên xấp xấp mặt phản ngựa chúng tôi ngồi.
Tuổi con nít mau đói, sáng hôm sau ngồi trên phản ngựa, tôi ngữi thấy mùi cơm chín dưới nhà bếp bốc lên thơm ngào ngạt, Ba tôi xuống bếp xin cho tôi một chén cơm nóng. Cơm nóng chan một chút nước mắm ngon vô cùng. Có lẻ cả đời tôi không khi nào được  ăn một chén cơm ngon như vậy. Sau này tôi mới biết, người tạm trú ở nhà Bác Phẩm đông nên cơm nấu ra chỉ đủ phát cho mỗi nhà một chén, tôi ăn hết thì Ba tôi nhịn chớ sao !!
Mẹ tôi sau này ,khi nào nói đến chuyện lụt 53 cũng nói về Mệ Viên Dép với lòng kính trong và biết ơn sâu sắc. Bà nội tôi , mẹ tôi, 2 đứa con dại và em bé mới sinh chứa đầy bốn tháng, được Mệ ưu tiên chăm sóc, cho chiếu nằm, chăn ấm, thức ăn .
Vừa mới ăn cơm xong, đang ngồi ngó mông ra ngoài sân vườn thấy nước lụt chảy vùn vụt , xoáy reo ầm quanh mấy gốc cây to, tôi bổng giật nẩy mình khi nghe tiếng rầm rầm  vang dội như sấm dậy. Một làn sóng cao như một cột sóng thần tràn qua vườn cây có nhiều cây ăn quả thân lớn của Ông ngoại tôi. Cây cối bị xô dạt gảy đổ.  Nhà Bác Phẩm bị sóng xô nghiêng ngã, cơ hồ muốn sập nhà. Tôi hoảng quá, thấy người lớn nhảy xuống nước lội lỏm bỏm, tôi cũng nhảy xuống đinh chạy thì ba tôi níu tay tôi lại.” Đừng, không răng mô, đừng sợ”. Tôi  nhìn tay ba tôi đang nắm chặt tay tôi. Trên tay  Ông có đeo cái đồng hồ, vô tình  tôi liếc thấy kim đồng hồ chỉ  9 giờ 15 phút.
Từ sáng cho tới chiều tối nước  cầm chừng không cao lên  chút nào nữa. Nước ngâm như thế cho đến sáng hôm sau thì rút xuống nhanh.
Trời mưa xối xả. ba tôi nói “ Mưa xối bùn, hết lụt rồi”.
Nhìn cảnh nhà cửa sau khi nước rút đi thật não lòng. Cũng như nhiều nhà láng giềng và trong xóm, nhà tôi đổ nghiêng. Bàn ghế tủ giường nghiêng đổ nằm chỏng chơ. Bùn bám trên mọi vật dụng.  Hàng chục bao thóc đổ tung tóe, ngâm nước lụt phải bỏ đi. Mấy ngày sau trên nền đất những đám mạ non lên xanh tốt. Mất cả tuần Ba tôi mới dựng lại nhà, quét dọn bùn và phơi phong vật dụng.
Nghe nói trên làng Bằng lãng ( Tuần) nước lụt cuốn trôi nhà cửa và người nguyên một ngôi làng.
Củi rều và rác rến còn vương trên nửa thân cây!! Tang thương phủ màn u ám trên quê hương Thừa thiên và Huế. Cả tỉnh có 335 người chết, 6.192 ngôi nhà bị đổ.
…………
Cửa Hữu sập lúc 9 giờ 15 phút sáng ngày 22 tháng 9 năm 1953. Có lẽ ba cửa Chánh tây, Nhà Đồ, Quãng Đức cùng đổ sập ngày hôm ấy.
Nguyên một cái cửa thành đổ sập xuống, gảy ra thành từng khối gạch to lớn có hình dáng bất định. Màu gạch vồ đỏ au, màu những đường vữa vôi trắng hếu..  Ngay vị trí chân móng cửa thành kéo dài qua hai bên là một hố sâu hoắm. Dòng nước hung hản chảy qua cửa thành bị cửa gỗ chận lại, nhửng cây gỗ, củi rều trôi theo nước lụt tấp vào cửa chặn dòng nước chảy bên trên nên nước tuôn bên dưới xói mòn chân đế của cửa thành. Giống hệt người đốn cây, từng nhát, từng nhát rìu chặt gốc về một phía, chỉ chặt đền hơn nửa thân, cây đã đổ. Nước xói làm hỏng mất chân đế phía ngoài nên toàn bộ cửa đổ sập ra bên ngoài thành. Nếu cửa thành không khóa lại, dòng nước không bị chận lại, có lẽ 4 cửa thành đã không bị sập đổ như thế.
Mấy hôm sau, nhiều người dân đem búa , đục tìm cách gở gạch ra từng viên để dùng nhưng vữa vôi pha mật đường gắn kết gạch quá chắc chắn nên không ai lấy được dù chỉ một viên nguyên vẹn.
Cửa Ngăn dưới ( Thể nhơn) không bị xói mòn chân đế vì dòng nước lũ bị kỳ đài chận lại nên dòng chảy đổi hướng và sức nước yếu đi.
……………
 Những cửa thành của Kinh thành Huế  là vật chứng cho những tang thương. Cửa thành ghi dấu những sự kiện từ kinh đô thất thủ ngày (23.5. Ất dậu, 1885) sau cuộc chiến không cân sức giữa phe chủ chiến của triều đình Huế với giặc Pháp  rồi đến sự tàn phá của thiên tai qua trận lụt 1953 làm 4 cửa thành đổ sập, rồi lại trải mình  qua chiến sự Tết Mậu thân (1968) với bao nhiêu vết hằn của bom đạn .

Bốn cửa thành đã được xây dựng lai từ năm 1998 cho đến gần đây mới xong. Chỉ cửa thành là mang diện mạo mới , còn phần thành xưa   vây quanh kinh thành cổ kính rêu phong vẫn như mang theo mình dấu vết thời gian và  khổ nạn triền miên của Huế.
Lê Duy Đoàn.
Ngày 6/ 12/2012

Đi tìm nhành hoa thạch thảo



                         Đi tìm nhành hoa thạch thảo.
                                                                   Lê duy Doàn,
     Những người có chút máu văn nghệ một lúc nào đó nổi hứng, thường buột miệng hát đôi câu vu vơ. Những câu hát nằm trong bộ nhớ có khi chỉ là một đoạn của bài hát. Khúc đầu ,khúc giữa, khúc đuôi, khúc nào cũng được,tự nhiên bật ra như radio bắt được tần số dò đài,những bài hát cóp nhặt trên dòng đời một cách có ý hay vô tình nghe đâu đó thỉnh thoảng được hát nho nhỏ như thế..
            Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo, Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi
      Đó là câu hát tôi thường nghêu ngao nhất, có lẻ vì không gian đượm buồn nhè nhẹ của lời bài hát, mà cũng vì trong câu hát có tên một loài hoa gây ấn tượng vì vẻ huyền hoặc của nó.
      Có lẻ với người Tây phương, người ta biết ngay hoa thạch thảo là hoa gì, một cái gì thấy được, ngắt được,thậm chí ngữi được mùi hoa ngát hương của nó. Trừ những người đã đi Tây và có quan tâm tìm hiểu thì còn có thể biết chứ phần nhiều người Việt chúng ta thật ra đọc thì đọc, hát thì hát chứ chẳng biết hoa thạch thảo là hoa gì, mặt mũi vóc dáng ra sao ?!
      Bài viết này không bàn luận gì về bài thơ L’ Adieu mà Búi Giáng đã dịch và Phạm Duy đã phổ nhạc, tôi chỉ muốn nhân câu chuyện liên quan đến bài thơ để đi tìm ra một cành hoa đúng thật là một cành hoa thạch thảo đặt lên mộ của Léopoldine tiếc thương người bạc mệnh.
      Léopoldine là con gái cưng của Victor Hugo, đại văn hào Pháp (1802-1885),. Léopoldine đã chết đuối cùng chồng trong một vụ lật thuyền trên sông Seine vào trưa ngày 4/9/1843, khi cô chưa đầy 20 tuổi và đang mang thai 4 tháng. Hugo chỉ biết tin con mất khi ông vô tình đọc một tờ báo ở quán cà phê nọ. Mộ Léopoldine được chôn gần nơi bà qua đời trên bờ sông Seine đoạn             chảy qua Villequier gần cảng Havre, cạnh khu bờ biển Normandi. Apollinaire làm bài thơ L’Adieu  sau khi đi thăm mộ Léopoldine con gái của Victor Hugo vào ngày 16 tháng 9 năm 1913.

L’Adieu

J'ai cueilli ce brin de bruyère
L'automne est morte souviens-t'en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps brin de bruyère
Et souviens-toi que je t'attends



Lời vĩnh biệt ( dịch)
 Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi
Chúng ta sẽ không tao phùng đựợc nữa
Mộng trùng lai không có ở trên đời
Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi
Và nhớ nhé ta đợi chờ em đó…
Bùi Giáng (1925-1998) dịch
(“Ði vào cõi thơ”. Bùi Giáng, trang 80-82, nhà xuất bản Ca Dao, Sàigon, Việt Nam.1969)
      Cũng dựa trên ý thơ của bài thơ nói trên, năm 1965, Phạm Duy viết bài “Mùa thu chết” mở đầu bằng 2 câu:

"Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
Em nhớ cho: Mùa Thu đã chết rồi!
      Bùi Giáng thì dịch “ hái nhành lá” còn Phạm Duy thì viết “ ngắt cụm hoa”. Đây là khởi đầu của những suy diễn sai lầm của nhiều người viết về hoa thạch thảo.
      Ngắt cụm hoa trong lời nhạc của Phạm Duy  gợi hình ảnh  một “cây thân thảo”,  hình ảnh người ngắt cụm hoa là hình ảnh một người cúi xuống  một bụi hoa .
      Hái nhành lá cây trong câu thơ dịch của Bùi Giáng gợi  hình ành một cây “hoa thân mộc” cao vừa tầm hái.
1.     Những cây không phải là Hoa Thạch Thảo nhưng bị ngộ nhận:
      Việc ngộ nhận hoa thạch thảo  của người đọc bài thơ dịch và và lời bài hát  nầy có nguyên do từ tên gọi tiếng Việt, một sự đồng hóa, lồng ghép khiên cưởng của chữ nghĩa do tên gọi giống nhau.
a.       Ngoài Bắc, người ta gọi Cúc cánh mối (vì hoa mỏng nhẹ như cánh mối) là thạch thảo, cúc thạch thảo nên nhiều người cứ thản nhiên coi cây hoa thạch thảo trong bài thơ nói trên là cây cúc cánh mối .
Cây có nguồn từ châu Âu, châu Á. Cúc cánh mối là cây thân thảo, sống nhiều năm nhờ có thân rễ mọc bò dưới đất. Thân cao 15 – 50 cm, đơn hay phân nhánh ít ở ngọn. Lá dài, thuôn hình giáo tù, hơi có lông mịn, nguyên, các lá ở thân không có cuống. Cụm hoa hình đầu đơn độc ở ngọn các nhánh. Vòng hoa đều dài, cánh môi thuôn hẹp, thẳng màu lam tím. Các hoa ở ngoài hình lưỡi, màu lam tím, dài 1 cm. Hoa giữa hình ống hẹp màu vàng, xếp sát nhau. Hoa thường màu tím nhạt. Quả bế có mào lông mịn màu vàng.

Cúc cánh mối, tên Aster amellus L, hay còn gọi là cúc thạch thảo,là một loài thuộc chi Cúc sao (Aster) thuộc về Họ Cúc (Asteraceae). Tên tiếng Anh European Michaelmas Daisy, tiếng Pháp Oeil de Christ.
Như vậy, có thể nói ngay Cúc cánh mối không phải là cây hoa thạch thảo. Sự nhầm lẫn bắt nguồn từ việc trùng tên theo cách gọi của người miền Bắc Việt nam mà thôi.
Rất nhiều bài viết trên mạng internet về hoa thạch thảo kể một câu chuyện tình lãng mạn của đôi thanh niên nam nữ có tên hẳn hoi. Có thể đó là một câu chuyện bịa như hầu hết truyền thuyết , cố ý tạo một câu chuyện đầy kịch tính rồi gán ghép vào xuất xứ tên gọi một loài hoa. “Ami và Edible thường hay cùng nhau vào rừng. Ami hái nấm còn Edible săn thú.Rồi, Edible vươn người ra vách đá dựng hái hoa thạch thảo cho Ami.Edible sẩy chân rơi xuống vực chỉ kịp nói xin đừng quên tôi”. (kèm theo bài viết là hình chụp Cúc cánh mối để minh họa)
Bắt đầu từ đây, những bài viết đó kéo thêm những ngộ nhận tiếp theo “Ban đầu họ đặt tên cho nó là Forget me not, sau nhiều năm và  được trồng ở nhiều nước nó lại có những cái tên khác nhau như Muget De Mai (Pháp), Thạch Thảo (Việt Nam)…
b.      Chính hoa 5 cánh tiếng Việt gọi là Hoa Lưu Ly mới là hoa forget me not
Trong một số ngôn ngữ, tên của hoa lưu ly được gọi là hoa "xin đừng quên tôi". Tên tiếng Anh "Forget me not" được mượn từ tên tiếng Pháp là "Ne m'oubliez pas" và được dùng lần đầu tiên vào khoảng năm 1532.
Có khoảng 50 loài lưu ly trong chi này, và chúng khác biệt nhau một cách đáng kể. Tuy nhiên, một lượng lớn các loài có chung các đặc điểm được miêu tả  như hoa màu lam tím nhỏ (đường kính 1 cm) với 5 cánh hoa mọc dày dặc trên các thân cây bò lan um tùm, ra hoa vào mùa xuân. Các loại màu sắc khác của hoa cũng không phải là bất thường trong chi này, với các dạng màu hồng hay trắng vẫn có thể tồn tại. Chúng hay được trồng trong vườn và các giống trồng thường có hoa với màu sắc hỗn tạp.
Các loài lưu ly có thể là cây một năm hoặc cây lâu năm. Hệ thống bộ rễ của chúng nói chung là rễ chùm. Hạt của chúng được tìm thấy trong các quả dạng quả đậu nhỏ, hình tulip dọc theo thân tới hoa. Quả đậu bám vào quần áo khi va chạm phải chúng và cuối cùng rơi xuống đất, giải phóng các hạt nhỏ để chúng có thể nảy mầm ở mọi nơi.
Họ (familia):
Phânhọ :;:(subfamilia):
Chi(genus):
Myosotis


Myosotis alpestris   Myosotis alpestris
Đây chỉ là sự gán ghép tên gọi. Dựa vào lời của người bạn trai nói với bạn gái khi rơi xuống vực trong câu chuyện thương tâm nói trên để cho rằng hoa thạch thảo còn có tên gọi là forget me not là một sai lầm ấu trỉ.
c.       Thêm một loài hoa được kéo vào đây để tung hỏa mù làm người đọc không biết đâu mà lần là Muget De Mai (Pháp),
Hoa này có tên là Hoa Linh Lan, trong tiếng Anh còn được gọi là Our Lady's tears (Nước mắt của Mẹ). Các tên gọi khác trong tiếng Anh là May Lily (huệ tháng Năm), May Bells (hoa chuông tháng Năm), Lily Constancy (huệ chung thủy), Ladder-to-Heaven (thang tới thiên đường), Male Lily.
Theo truyền thống, hoa linh lan được bán tại Pháp trên các đường phố vào ngày 1 tháng 5. Kể từ năm 1982, hoa linh lan là quốc hoa của Phần Lan
Bộ (ordo):
Họ (familia):
Chi (genus):
Convallaria
Loài (species):
C. majalis


Linh lan hay lan chuông (danh pháp khoa học: Convallaria majalis,L, là loài duy nhất trong chi Convallaria thuộc một họ thực vật có hoa là họ Ruscaceae. Nó có nguồn gốc trong khu vực ôn đới mát của Bắc bán cầu tại châu Á, châu ÂuBắc Mỹ. Nó là một loài cây thân thảo sống lâu năm có khả năng tạo thành các cụm dày dặc nhờ loang rộng theo các rễ ngầm dưới mặt đất gọi là thân rễ. Các thân rễ này tạo ra rất nhiều chồi mỗi mùa xuân. Thân cây cao tới 15–30 cm, với hai lá dài 10–25 cm và cành hoa bao gồm 5-15 hoa trên đỉnh ngọn thân cây. Hoa có màu trắng (ít khi hồng), hình chuông, đường kính 5–10 mm, có mùi thơm ngọt; nở hoa về cuối mùa xuân. Quả của nó là loại quả mọng màu đỏ, nhỏ với đường kính 5–7 mm.Nó là một loại cây cảnh trồng phổ biến trong vườn vì các hoa có mùi thơm của nó.
  •                
Hoa lan chuông
Kết 1:  Cúc cánh mối (Aster amellus L), forget me not hay còn gọi là  hoa lưu ly (Myosotis), Linh lan hay lan chuông (Convallaria majalis,L),cả 3 loài đều không phải là Cây Hoa Thạch Thảo.
2.    Hoa Thạch Thảo là cây gì ?
 Guillaume Apollinaire làm bài thơ L’Adieu sau khi đi thăm mộ Léopoldine con gái của Victor Hugo vào ngày 16 tháng 9 năm 1913.Bài thơ được viết lên một phần là để tưởng nhớ Victor Hugo, một phần là tiếc thương người bạc mệnh.
Câu đầu:
J'ai cueilli ce brin de bruyère,
 được Bùi Giáng dịch rất sát:
                    Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo,
         Brin de bruyère là nhánh , cành, nhành cây thạch thảo. Có lẻ Bùi Giáng cũng không biết cây thạch thảo ra sao, nên cứ bám vô chữ mà dịch cho chắc ăn. Mấy câu dưới ý tứ thoáng hơn nên có thể dịch thoát cũng được. Còn Phạm Duy phổ nhạc nên lại càng thoáng hơn một chút nữa. Cành lá  hay cụm hoa cũng được, có hoa hay chỉ trơ cành cũng chẳng sao, thì cứ chữ gì động được đến tầng vi tế rung động của con tim là phổ. Phạm Duy có biệt tài phổ nhạc, ý nhạc nâng ý thơ, nên những bài thơ ông phổ hầu như tất cả đều nổi tiếng và đôi khi làm những nhà thơ vô danh cũng nổi tiếng theo.
      Điều chính yếu của bài viết này là tìm ra đúng cây Hoa Thạch Thảo mà Apollinaire đã từng hái nhành hoa và đặt lên mộ Léopoldine vào ngày cuối thu (16/9).
Cây Hoa thạch thảo có
Tên Hoa : 紅方柏 (hồng phương bách), 石楠(thạch nam)
Tên Anh :  heather
Tên Pháp:  bruyère
Thuộc Họ Đỗ Quyên (Ericaceae)
Tất cả các loại thạch thảo đều trong Họ Ericaceae, có một loài hoa thạch thảo duy nhất thuộc Chi Calluna, ngoài ra là Chi Erica. Dưới đây là một số loài thuộc Chi Erica trong hàng vài trăm loài khác nhau trên thế giới.
Loài Calluna vulgaris là loài thạch thảo thật sự (true heather), loài cây nhỏ, có hoa nhỏ hình chuông màu tím, hay hồng nhạt.

Chi  Erica gồm nhiều loài khác nhau từ loài cây nhỏ mọc từng bụi nhỏ hoặc có thể là cây lớn.
- Erica arborea, cây nhỏ ở vùng Địa Trung Hải có chùm hoa trắng hình chùy, thơm và có rễ cứng như gỗ được dùng để làm ống điếu hút.
- Erica carnea, là loại cây hoa nhỏ mùa đông hay mùa xuân, ở Âu châu có hoa hình chuông màu đỏ hay hồng. Phân bố ở vùng núi Alpes
-  E. cinerea: loại thạch thảo có lá nhỏ, hoa hình chuông màu đỏ tím
từ Tây Âu cho đến Đan mạch.
-Erica ciliaris phân bố ở  phía Tây nước Pháp, Anh quốc, bán đảo Ibériquevà Bắc Maroc.
- E. tetralix, bellheather, cross-leaved heath là loại cây nhỏ lùn có hoa màu hồng ở Tây Âu  
- E. vagans hay còn gọi là Cornish heath là loại thạch thảo mọc cả bụi có hoa màu hồng hay trắng thường thấy ở cánh đồng hoang tại Cornish và đông nam Ấu châu.
- E. lusitanica  mọc rậm rạp có hoa trắng hồng phân bố ở Tây ban nha và Bồ Đào Nha và ở vùng bán đảo Iberia.
-  E. perspicua hay Prince of Wales heath mọc rất nhiều ở Anh quốc và Nam Phi châu, có hoa màu trắng. Hoa dài và trông tựa như chùm lông của huy hiệu trên Coat of Arms của Hoàng tử xứ Wales- Anh Quốc, nên mang tên Prince-of-Wales heath
- Erica mammosa là loại Erica có nhiều màu nhất từ màu trắng, tím, cam đến màu đỏ. Hoa chuông đặc biệt dài hơn các loại Erica khác
Có thể kể thêm một số loài :
            Erica australis phân bố ở Bắc Maroc, Erica ciliaris ở phía Tây nước Pháp, Anh quốc, Erica cinerea, Erica erigena, , Erica mackaiana, Erica manipuliflora, Erica multiflora, Erica scoparia, Erica sicula, Erica terminalis, Erica tetralix, Erica umbellata,
Những loài này phân bố cùng khắp nên tôi chỉ  để ý đến những loài cư trú ở vùng Normandi là bờ biển phía Tây của nước Pháp và phân bố rộng rải ở Anh quốc. Sau khi đã nghiên cứu, phân loại và loại suy cùng đối chiếu với hình ảnh hoa thạch thảo trong văn chương, văn bản. Tôi đi đến kết luận:
Kết 2:  Loài Calluna vulgaris là loài thạch thảo thật sự (true heather), loại cây nhỏ, có hoa nhỏ hình chuông màu tím, hay hồng nhạt chính là Cây Hoa Thạch Thảo mà tôi muốn tìm.
Loài hoa này gốc ở Châu Âu, nhờ mấy nhà thơ, nhà văn nên nó mới thành hoa kiểng, chứ trước kia thế kỷ 17 -19 nó là hoa dại. Ở miền bắc nước Anh cây hoa thạch thảo này mọc đầy đồng, giống như cỏ tranh ở Việt Nam. Dân Scotland lấy thân của nó bện lại làm chổi, hoặc lợp mái, ken vách và nhiều công dụng thực tế khác hơn là làm kiểng. Bây giờ di cư sang Châu Mỹ nó thành Cô Bé Thị Thành đỏng đảnh ỏ trong các tiệm bán hoa, chứ ngày xưa nàng gốc nhà quê rặt.
Ai từng đọc qua truyện Ðỉnh Gió Hú (Wuthering Heights) của Emily Bronte chắc cũng nhớ đến những cánh đồng hoang (moors) mọc đầy hoa thạch thảo (heather), và tiếng hót líu lo của những con chim chiền chiện (moor-lark). Hoa thạch thảo là loài hoa mà chính tác giả, Emily Bronte yêu thích, nàng đã nhiều lần đưa nó vào truyện và thơ của mình. (1)
Hành trình đi tìm Nhành Hoa Thạch Thảo khởi đi từ những ngộ nhận về một loài hoa đã đi vào văn thơ của thế giới và thơ nhạc Việt nam. Người ta thường muốn biết chân dung thật sự người trần mắt thịt của một Nàng Thơ là như thế nào. Vì thế mới có Ngô Vũ Bích Diễm của Diễm xưa, có Ngô Vũ Dao Ánh của Thư Tình Gửi Một Người, Minh Đức Hoài Trinh của Đừng Bỏ Em Một Mình,  Khánh Ngọc của Nửa Hồn Thương Đau….
Nhành Hoa Thạch Thảo cũng là một Nhành Thơ trong tâm hồn của nhiều người Việt.
 Chân dung Nàng đã hiển lộ nhưng nét duyên của Nàng  không bao giờ phai mờ.
                      Ôi ngát hương thời gian mùi thạch thảo,
                       Em nhớ cho rằng ta vẫn chờ em…

Lê Duy Đoàn,
Sài gòn, 06/01/2013

Trích:
(1)    Một đoạn ngắn trong bài “Hoa tương tư” của  Lê Phạm Trung Dung