Thứ Hai, 11 tháng 3, 2013

Nhớ lời phê của Thầy Châu Khắc Túy, dạy Toán trường Quốc học



Nhớ lời phê của Thầy Châu Khắc Túy
(Thầy dạy Toán của tôi năm lớp Đệ nhị , Trường Quốc học niên khóa 62-63) .

Tôi là học sinh trường Quốc học từ năm 1957 đến năm 1964, từ Đệ thất cho đến Đệ nhất .
Niên khóa 1962-1963, tôi học lớp Đệ nhị A 2. Lớp tôi ở đầu dãy trệt gần cổng sau bên hông trường. Trước dãy lớp, một hàng dương liểu cổ thụ và  một sân bóng rổ
Những Thầy dạy lớp tôi năm đó là các Thầy:
-Quốc văn: Thầy Lâm Tài – Toán : Thầy Châu khắc Túy – Lý hóa: Thầy Trần đình Bình – Vạn vật: Thầy Nguyễn thanh Lộc – Pháp văn : Thầy Nguyễn văn Thường – Anh văn : Thầy Nguyễn văn Chương – Sử địa : Thầy Bùi Ngọc Liên – Công dân giáo dục : Thầy Chu trọng Thuyết  - Thể dục : Thầy Lương Tấn Liêm.
Thầy Lâm Tài cao, vai rộng đi xe Peugeot 203 màu lá chuối non, thường mặc bộ veston màu xám lục nhạt, nhớ Thầy một lần vui miệng  thầy  khoe bảng số xe của Thầy cọng lại thành số 9 là số may mắn, Thầy có người em gái cao , tóc đen dài đẹp và dễ thương..nhưng thương không dễ. Thầy Châu khắc Túy thường mặc quần màu đen không  li, áo màu trắng bó sát người, khi viết bảng thì viết dấu sắc ngược từ dưới lên , dài và thẳng như mũi tên bắn lên trời. Thầy Trần đình Bình có khuôn mặt và nét môi rất giống tài tử Pháp nổi tiếng thập niên 60 là Jean Paul  Belmondo. Thầy Nguyễn thanh Lộc: cao dong dỏng nước da trắng xanh, tánh hiền lành, dạy môn Vạn vật rất rõ ràng dễ hiểu. Chính thích lối dạy của Thầy tôi học môn này rất giỏi, đứng thứ 2 trong lớp. Thầy Nguyễn văn Thường: Thầy đi chiếc xe traction màu đen, thấp người , miệng móm kiểu Tây, thầy được học trò gọi với tên thân mật là Me-xừ Vincent theo tên một nhân vật trong sách giáo khoa môn Pháp văn .Thầy Nguyễn văn Chương : Ra dáng một quý Ông  phớt tỉnh Ăng lê thứ thiệt,lối nói rất hóm hỉnh dễ mến, dạy rất hay. Thầy Bùi ngọc Liên  nói giọng Quãng trị và Thầy Chu trọng Thuyết là giáo sư hướng dẫn lớp tôi năm đó. Thầy Lương Tấn Liêm, ở Sài gòn ra dạy làm moniteur môn thể dục.  Thầy đẹp trai, cường tráng .Cơ thể thầy rắn chắc, những bắp thịt nổi cuồn cuộn. Nước da đen bóng . Lúc đó, có quảng cáo kem đánh răng Hynos có hình một người da đen khoe hàm răng trắng. Học trò gán cho Thầy Liêm biệt danh là “Hynos, chachacha”. Chỉ là tinh nghịch của tuổi học trò chứ không phải là ác ý.
Tôi nhắc lại những điểm đáng mến của các Thầy với  lòng thương mến,quý trọng và biết ơn những vị Thầy đã tận tụy dạy chúng tôi dưới mái trường Quốc học năm ấy.
Câu chuyện tôi kể dưới đây nói về cái tài và cái tâm của  Thầy giáo dạy môn Toán lớp tôi năm đó,: Thầy Châu khắc Túy.
Thầy tốt nghiệp Thủ khoa môn Toán, trường Đại học Sư Phạm Huế. Thầy dạy môn toán rất hay và dễ hiểu. Giờ học của Thầy là giờ học thú vị có lẻ vì thầy tạo được hứng thú học tập nơi học sinh và biết rõ học trò tiếp thu bài vở đến đâu, dù dạy ban A  là môn thứ yếu hệ số 2-( trong khi đó môn Vạn vật và Lý hóa đều hệ số 3)- Thầy cũng dạy rất tận tụy và đầy trách nhiệm theo đúng lương tâm chức nghiệp của một nhà giáo.
Tôi là một trong năm học sinh giỏi môn Toán trong lớp 55 học sinh.
 Học kỳ 1, môn Toán tôi có điểm số khá cao. Thầy Túy phê vào học bạ là “khá, chăm”.
 Qua học kỳ 2, khi làm bài thi Lục cá nguyệt thứ nhì, tôi hấp tấp thấy bài thi dễ nên không cẩn thận tính toán sai con số từ đầu nên làm sai cà bài thi. Điểm thấp.Thầy phê “ kết quả không may”.
Tôi cám ơn Thầy vì lời phê  “ có một không hai”này.  Chỉ có ông Thầy biết rõ học trò và sâu sát với lớp mới viết ra mấy chữ đầy ân tình như thế.
 Tôi rất thích lời phê này vì tôi biết hàm ý của Thầy là “ Trò là một học sinh khá, Thầy biết sức học của trò. Chẳng qua lần này vì lý do nào đó mà trò làm bài sai. Thầy cho là trò không gặp may mà thôi”  Cuối năm đó trong kỳ thi Tú tài Bán phần tôi làm bài cẩn thận hơn, dò đi dò lại nhiều lần. Kỳ thi đó tôi đậu bình thứ.
Tôi  tốt nghiệp Đại học Sư Phạm Huế năm 1970, đã dạy học sinh các trường Trung học Đệ nhị cấp Đại Lộc, Quãng Nam, đổi về dạy Trường Trung học Đệ nhị cấp Quốc học Huế năm 1974. Tôi đã dạy học sinh các trường Trung học Phổ thông Nguyễn Du, Gia hội ở Huế sau 1975.
Cứ đến mỗi kỳ tổng kết điểm kỳ 1, kỳ 2 và cuối năm, mỗi lần ngồi vào bàn phê vào học bạ của học sinh tôi lai nhớ Thầy Châu khắc Túy, nhớ câu phê của Thầy trong học bạ của tôi, nhớ cả hình ảnh Thầy đứng trên bục giảng bài, nhớ cả giọng nói và chữ viết với dấu sắc kẻ ngược từ dưới lên như tên bắn.
Tháng 12 năm 1998,  trong một đám cưới của người em bạn dì của vợ tôi là Trần Nhơn với người con gái của Thầy Túy ( cô Châu khắc Diễm Phương)tôi  nghe câu chuyện của  Thầy.
Thầy bị đạn giữa tao loạn trong sự kiện Tết Mậu thân (1968). Sau 68, hầu như mọi người quen biết Thầy  đều đinh ninh là Thầy bị bắn. Trong một buổi lễ kỷ niệm của trường Quốc học có mời bà Lê thị Cháu là hiền nội của Thầy Châu khắc Túy .Ông Ngô Yên Thi ( cựu học sinh trường Quốc học niên khóa 1961-1964)là bí thư Tỉnh ủy tỉnh Thừa thiên nói rằng, Thầy Châu khắc Túy hoạt động cho cách mạng và qua đời khi đi công tác. Do ông Ngô Yên Thi nói công khai như thế, Bà đến văn phòng Tình ủy  xin xác nhận điều đó để con cái Thầy có thể vào học đại học.
Bây giờ gia đình Thầy Túy có tấm giấy của Nhà nước  CHXHCN Việt nam công nhận Thầy Châu khắc Túy là Liệt sĩ. ( viết theo lời kể của Bà Lê thi Cháu, hiền nội của Thầy)
Bây giờ nhớ Thầy , tôi giở những trang học bạ ra xem.  Tôi ngậm ngùi nhìn lời phê và chữ ký của Thầy. Một người Thầy đáng yêu, đáng quý mà đoản mệnh.
Chữ ký của Thầy có nét cắt của chữ Y kèm theo một dấu chấm. Chấm hết.

Lê Duy Đoàn,
Sài gòn , ngày 16/11/2012

Thằng bé khờ khạo...dễ thương.



                         Thằng bé khờ khạo …dễ thương.
                                                                                    Lê duy Đoàn.
Đây là những câu chuyện tự trào vì thằng bé khờ khạo… mà dễ thương chính là tôi khoảng năm mươi mấy năm về trước. Tôi hay kể chuyện này khi nói chuyện vui với bạn bè cùng trang lứa hay kể cho các con tôi nghe. Nghe chuyện, ai cũng cười và nghĩ rằng sao lại có một thằng bé khờ khạo quá như vậy.
( Trong câu chuyện xin lưu ý người đọc, những lời xưng hô theo đúng ngữ cảnh vào thời điểm thập niên 50, lúc tôi còn bé xíu nên những từ như” thằng,hắn…” là bạn bè gọi nhau thân thương khi còn nhỏ- những người đó bây giờ đã trên dưới 70 tuổi rồi , có người đã ra thiên cổ - tôi hoàn toàn không có ý mạo phạm,bất kính).
1.              Thằng, con:
Mẹ tôi kể rằng, khi chưa đầy 2 tuổi, tôi đã biết nói rành rọt. Ông ngoại tôi họ Trương, người làng Vỹ dạ, có khu vườn rộng bên ngoài cửa Hữu. Mẹ tôi làm dâu họ Lê duy ở xóm Đông an ( xóm guốc) , làng An ninh Hạ.
Về thăm ngoại, mẹ tôi phải bồng tôi đi bộ và qua 2 bến đò: bến đò làng Hạ và bến đò kẻ Vạn.
Vừa bước chân lên đò, mẹ tôi gặp một người bạn . Bà ấy nhìn rồi hỏi mẹ tôi:” Con à ?”. Mẹ tôi trả lời ngắn gọn nhưng lễ phép :” Dạ, con”. Đợi cho người bạn của mẹ tôi đi khuất, tôi mới thỏ thẻ hỏi mẹ:” Mạ,thằng chơ răng mạ nói là con ?” ( Mẹ, con là “thằng” mà sao mẹ nói là “con”).
2.              Khờ khạo nên thành Trạng Cóc.
Năm 1956, tôi lên 10 , chuẩn bị lên lớp Nhất trường Tiểu học Vạn Xuân. Năm đó có hội chợ và triển lãm nông nghiệp ở Phú văn lâu, thành phố Huế. Hội chợ này tổ chức vào adịp hè.
Chính quyền Ngô đình Diệm lúc đó muốn tổ chức những ngày hội vui vẻ để mừng kết quả bầu cử.  Cuộc trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955 có kết quả sắp xếp trước theo đúng kịch bản “ xanh vô giỏ, đỏ vô bì”và gian lận phiếu của chính quyền Ông Diệm nhằm phế truất Ông Bảo Đại và đưa Ông Ngô đình Diệm lên cầm quyền ở Miền Nam.
Tôi có người bạn chí thân học chung một lớp tên là Lê văn Khâm. Mặc dù học chung một lớp nhưng Khâm học giỏi, khôn ngoan, lanh lợi hơn tôi nhiếu.
Nhà chúng tôi lúc đó  ở bên cạnh nhau. Tôi ở  nhà số 1 kiệt 1 đường Quốc lộ 1 ( sau này là 77 Thống nhất), phường Phú thạnh, Huế. Nhà Khâm giữa nhà tôi và cái quán bán tạp hóa của Mẹ tôi sát đường lộ. Nhà Khâm ở trên đất trong khu vườn rộng của Ông đại tá Tư cho thuê ở tạm .
 Khi nghỉ học, tôi thường ngồi bên canh Mẹ tôi nghe Bà nói chuyện. Mẹ tôi là người  vui vẻ, nói chuyện rất dí dỏm có duyên. Bà biết rất nhiều chuyện đông tây kim cổ.  Bà thuộc nhiều thơ ca hò vè, từ bình dân như vè thất thủ kinh đô đến các làn điệu ca Huế như  Hò mái nhì, hò mái đẩy, Nam ai, Nam bình Cổ bản, Lưu thủy hành vân, tứ đại cảnh, kim tiền… với giọng hát thanh tao kèm theo những  giải thích rành rọt. Bà thuộc thơ từ Xuân Diệu, Thế Lữ, Hàn mạc tử cho đến Phan bội Châu, từ Lục Vân Tiên đến Truyện Kiều, Phạm Công Cúc hoa… Mẹ tôi đọc qua vài lần là nhớ như in và đọc vanh vách. Bà có trí nhớ rất tuyệt, tôi không sánh bằng. Mẹ tôi lại có tài nói chuyện tếu. Bà kể chuyện xong mọi người cười rộ mà Bà chỉ cười tủm tỉm thôi.  Khách hàng đến mua một phần vì Mẹ tôi bán giá phải chăng, một phần vì quý mến Mẹ tôi và thích nghe Bà nói chuyện.

                                                                                 *    *
Chiếc xe buýt tuyến Triều sơn tây, An hòa –Đông ba của anh Toàn lái dừng trước quán . Hai anh em Khâm và Dũng xuống xe, mặt tươi cười hớn hở. Dũng thấp người, trên tay bưng khệ nệ một cái khay và một bộ ấm chén trà men trắng, bao bằng giấy kiếng đỏ. Bộ ấm chén trà men trắng có in hình ông Thọ chống gậy có bầu rượu, con dơi bay và em bé ôm quả đào tiên rất đẹp.
Mẹ tôi hỏi:” Ở mô mà có bộ khay trà đẹp rứa ?”.
Khâm trả lời :” Dạ, tụi con đi hội chợ chơi trò chơi chuột bạch, trúng số, được thưởng.”
Tôi hốp tốp nói với mẹ tôi :” Mạ cho con xuống hội chợ lấy bộ khay trà giống thằng Khâm “. Tôi nói chuyện dễ như lấy đồ trong túi không bằng.
Hai anh em Khâm vừa thắng giải, khoái chí dẫn tôi đi hội chợ. Mẹ tôi cho tôi đúng 12 đồng. Hai đồng cước xe buýt đi và về ( mỗi lượt, một đồng), 10 đồng để  mua 1 vé chơi trò chơi một lần, như thể chỉ chừng đó tiền tôi có thể mang về một bộ khay trà.
Chúng tôi níu tay người lớn qua cửa vô hội chợ khỏi tốn tiền mua vé và đi thẳng đến nơi có trò chơi chuột bạch, trò chơi mà hai anh em Khâm vừa mới trúng thưởng.
Hội chợ có khu triển lãm sản phẩm nông nghiệp ở khu vực đình Phú vân lâu, hai cánh là khu vui chơi. Có  nhiều trò : lô tô, tài xỉu, quăng vòng vịt, ném banh, bắn súng hơi, ném phi tiêu… trong những quầy phân chia riêng lẻ. Có một cái rạp lớn hình trụ có mái che phía trên, là trò biểu diễn mô tô bay. Người tham dự các trò chơi chen lấn nhau. Loa phát thanh, nhạc xập xình, tiếng reo hò tạo nên sự ồn ào náo nhiệt trong khu hội chợ.
Chúng tôi chẳng để ý đến những trò vui khác , vô hội chợ chỉ để chơi trò chơi “ chuột bạch”mà thôi. Một cái rạp nhỏ vuông vức, nằm biệt lập trên khu đất trống ở giữa khu giải trí. Người chơi đứng bao quanh. Ngay trung tâm là một cái lồng bàn có dây rút. Trong lồng bàn một con chuột bạch nhìn quanh có vẽ sợ sệt. Vòng trung tâm đứng yên. Bên ngoài vòng này có một đường chuột chạy hình vành khăn , trên đó, có  16 cái chuồng nhỏ có mái, cửa chuồng hình vòm hướng vô trung tâm. Hình vành khăn này quay tròn nhờ một cái moteur. Bên trong mỗi chuồng đều có cỏ để dụ con chuột chui vào. Chuột đã được huấn luyện nên chạy quanh và chui vào chuồng rất thuần thục.
Đến nơi, người ta đang bán vé cho lần chơi tiếp theo. Dũng nhanh tay mua ngay một vé. Tôi đang còn lớ ngớ thì nghe người bán vé rao:” Còn vé cuối cùng số 2 đầy hy vọng, số 2 may mắn đây”. Dũng khều tôi:” Còn vé, Đoàn mua đi tề”. Tôi vội vàng nói to, cơ hồ như sợ người khác tranh mua mất:” Cho em, cho em”.
Mua được vé, lòng tôi khấp khởi mừng và hy vong trúng thưởng, nhưng một bác đứng bên cạnh nói với tôi một câu giống như dội lên tôi một gáo nước lạnh:” Số 2 mới trúng nên không ai mua mà con mua làm chi ?” Tôi buồn bà nghĩ thầm :”Thôi, rứa là mất tiêu 10 đồng mạ cho”
Tôi càng tiu nghỉu hơn khi trò chơi bắt đầu. Vòng vành khăn bắt đầu quay. Những người tham dự trò chơi ồn ào như vỡ chợ. Khi vòng đó ngưng quay, lồng bàn được kéo lên. Chú chuột ngơ ngác định  hướng. Chuồng số 2 nằm về phía đuôi con chuột. Chuột chạy thẳng đến chuồng số 8 trước mặt, thò đầu vô ngữi. Tiếng la hét vang dội. Chuột thụt lùi chạy tiếp. Hết chuồng này đến chuồng khác, chuột cứ thò đầu vô rồi lại lùi ra. “ Vô, vô,vô…” Cuối cùng tới chuồng số 2, chuột chui tọt vào nằm yên không ra nữa.
Tôi sung sướng quá nhảy cẩng lên . Người dẫn chương trình trò chơi reo lên” Số cuối cùng đầy  hy vọng đã trúng giải “ Tôi chìa tấm vé số 2 ra đầy hảnh diện. “ Em bé đã trúng. Em lấy phần thưởng gì? Bộ son, bộ chén dĩa, cái chăn…..” Anh kể ra một loạt các loại phần thưởng để cho tôi chọn lựa.
Tôi đáp nhanh không suy nghĩ :” Cho em lấy bộ khay trà giống như bộ của thằng Khâm”.
Chắc chắn anh ta chẳng biết Khâm là ai nhưng anh cũng vui vẻ tìm kiếm bộ khay trà. Anh lục tìm dưới quầy lấy ra được một bộ khay trà giống y hệt bộ mà anh em Khâm trúng thưởng và trao cho tôi.
Tôi vội vàng ôm bộ khay trà ra cổng đón xe buýt về nhà với 1 đồng còn lại.  Thấy tôi bước xuống xe trên tay bưng khệ nệ một bộ khay trà như của anh em Khâm , Mẹ tôi vô cùng ngạc nhiên. Bà nhìn tôi trìu mến , vừa mĩm cười vừa nói:” Con đúng là Trạng Cóc, tưởng nói chơi mà thành thiệt “. ( Ở Huế, nói Trạng Cóc có nghĩa là nói dóc )
Bộ khay trà ấm chén được Ba Mẹ tôi giữ gìn kỷ lưởng . Bên cạnh nó là giai thoại về sự ngây ngô khù khờ của tôi. Mỗi lần Tết đến, dọn bánh mứt, pha trà Kim lan của hảng trà  Văn an Thái mời khách, Ba Mẹ tôi hay khoe:”  Bộ khay trà thằng  con tui  trúng thưởng hội chợ đó “.
3.     Khờ khạo nên suýt không được thi tuyển vào Đệ thất ( lớp 6 bây giờ).
Năm 1956, tôi học lớp Nhất trường  Tiểu học Vạn Xuân, gần bến đò Kẻ Vạn, cạnh khu Phú Mộng là khu nhà vườn nổi tiếng của thành phố Huế. Cô giáo dạy tôi là cô Tôn nữ Yến, con gái Cụ họa sĩ Tôn Thất Sa, nhà cách trường hơn trăm mét.. Thầy Trần trọng Khoái nhà ở Vỹ dạ, dạy lớp Nhì là Hiệu trưởng. Lớp tôi có trên 50 học sinh. Cô Yến là cô giáo rất tận tâm, giảng dạy rất hay nên trường Vạn xuân là một trường “nhà quê” mà kỳ thi vào Đệ thất công lập năm đó, lớp tôi đậu hơn một nửa.
Gần đến kỳ nghỉ hè, chuẩn bị cho kỳ thi vào lớp Đệ Thất ( lúc này đã bỏ kỳ thi Tiểu học, học sinh đủ điểm trung bình là được cấp bằng Tiểu học), cô giáo phát cho mỗi trò một cái phom thẻ học sinh và dặn dò kỹ lưỡng mỗi em về ghi các chi tiết rồi nộp lại cho cô để Hiệu trưởng ký tên và đóng dấu của trường.
Tôi chẳng ý tứ gì cả nên bỏ cái thẻ ấy ở đâu mà tìm hoài không thấy.
Sáng thứ hai đầu tuần, học sinh nộp thẻ, tôi vẫn tìm chưa ra thẻ của mình. Tôi khờ khạo sợ bị cô giáo la mắng ( tôi nghĩ vậy thôi chứ cô Yến nghiêm nhưng rất hiền) nên không nói cho cô biết điều đó. Thẻ học sinh được hiệu trưởng ký tên và đóng dấu mộc trả lại cho học sinh Thế mà cô giáo cũng không biết là tôi không có thẻ.
Mấy ngày sau tôi tìm ra thẻ nhưng vẫn sợ cô la mắng nên không trình với cô giáo. Tôi lại dại dột đem chuyện này nói với một thằng bạn học cùng lớp ở cạnh nhà là Nguyễn Hoài. Hoài ra vẻ là người hiểu biết ( thật ra chỉ là THẦY DÙI) :” Dễ ẹt, mi cứ ký chữ ký của mi chồng lên trên cái ảnh là được thôi”.  Nói như vậy mà tôi cũng tin và làm theo. Tôi ký chữ ký mình chồng lên ảnh 4x6 và yên chí là thẻ học sinh của mình hợp lệ.
Trong lớp, tôi chỉ là học sinh trung bình khá. Sỉ số lớp trên 50 đứa, tôi xếp thứ hạng từ 10 đến 20 còn Lê văn Khâm thường xếp hạng từ 1 đến 3.
Kỳ thi vào lớp Đệ thất công lập năm 1957 ở Huế có Trường nữ trung học Đồng Khánh thi và chấm riêng, các trường nam sinh nạp đơn thi riêng nhưng chấm chung và công bố kết quả chung.Số học sinh dự thi trên 2000 mà chấm đậu 600.
Tôi không lượng sức mình nộp đơn dự thi vào trường Quốc học, nghĩ đơn giản là học trường Quốc học oai hơn mấy trường kia. Trường chỉ mở 2 lớp, lấy đậu chỉ khoảng 100 học sinh, trong khi các trường Nguyễn tri Phương, Hàm Nghi xét trúng tuyển đến 200, 300. Khó đậu vào trường Quốc học  lắm.
Trước hôm thi một ngày, số ký danh đã được  viết lên bàn thi. Sau khi dò số ký danh, ba tôi cẩn thận dẫn tôi vào tận phòng thi ( từ cổng chính  nhìn vào là dãy lầu bên trái, phòng số 3 , SKD  số 384, ngồi đầu bàn thứ 3 phía cửa ra vào).  “ Chỗ con  ngồi thi đây nè. Nhớ nghe .” Tôi dạ dạ ra chiều đã rõ.
Sáng đi thi, Ba tôi chở tôi bằng chiếc xe mobylette vàng đến trường sớm, đứng chờ trước cổng chính của trường.  Cổng vừa mở, tôi nhát thấy Lê văn Khâm đi trước tôi về phía dãy lầu bên phải.  Tôi lúc thúc chạy theo Khâm,  khờ khạo nghĩ rằng nếu ngồi gần Khâm lỡ làm bài thi bí chỗ nào thì có người để hỏi.
Ba tôi  đứng trước cổng trường dõi mắt theo tôi, thấy tôi sao không đi về phía dãy lầu bên trái mà lại đi qua phía dãy lầu bên phải!!?? Gửi xe cho người bạn trông hộ, Ba tôi chạy vào níu vai tôi hỏi :” Sao con đi qua phía này?” Tôi trả lời không suy nghĩ:” Dạ, con đi theo thằng Khâm.”
Dắt tay tôi qua chỗ ngồi đúng số ký danh 384, ba tôi gặp Thầy Trợ Lữ, giám thị phòng, là bạn ba tôi. ( Trận đói năm 1946, Thầy lên làng An ninh hạ tá túc nhà tôi một thời gian, được gia đình tôi giúp đở).
Ba tôi nói với Thầy :” Con tui đây, có chi nhờ Thầy giúp đở”. Thầy cầm thẻ học sinh của tôi lên coi, ngạc nhiên vì không có chữ ký và dấu của trường. Thầy nói:” Sáng ni may mà tôi coi thi phòng ni gặp cháu, chiều ni, thầy khác coi thi thì họ không cho cháu thi mô. Anh về tìm Thầy Hiệu trưởng ký tên đóng dấu vô thẻ để chiều cháu thi.”
Cũng may là Thầy Trần trọng Khoái, hiệu trưởng trường Vạn xuân đang làm thư ký hội đồng thi ngay tại trướng Quốc học. Thầy ký tên rồi chỉ nhà Thầy ở làng Nam phổ, gặp Cô để đóng dấu vô thẻ học sinh của tôi.
Sáng đó, thi môn Luận và Sử địa, Khoa học thường thức.  Thi xong,gặp Ba tôi, Thầy Trợ Lữ nói:” Cháu dại quá anh ơi. Tôi đứng bên nhắc bài cho cháu mà cháu không nghe, cứ làm bài theo ý mình”.
Chiều đó, thi Toán. Đề bài có bài toán đo lường, một bài toán động tử. Tôi làm bài được.
Ngày có bảng đậu, hội đồng thi tổ chức xướng danh ở trường Nguyễn tri Phương từ chiều tới tối mịt mới hết 600 học sinh đậu vào lớp Đệ Thất các trường nam sinh thành phố Huế.
Tôi đậu thứ hạng 384 giống y số ký danh của tôi và vào học lớp Đệ Thất 2 của trường Quốc học. Sau này nghe nói là bạn Cung Trọng Bảo là Thủ khoa khóa thi vào Đệ Thất chấm chung năm 1957 vào học trường Hàm Nghi, bạn Trần Đại Hiền ( thân sinh ca sĩ Trần Thái Hòa) là đồng thủ khoa, vào học trường Nguyễn Tri Phương, bạn Hồ Đăng Kế, đậu hạng 3 vào học trường Nguyễn Tri Phương.
Chuyện lạ: Làm sao tôi nhớ số ký danh?  Đơn giản vì trùng hợp với bảng số xe An Hòa của anh Toàn và số nhà cùa nhà hộ sinh KimAnh gần đầu cầu Bạch hổ. Cả hai đều có số 384.
4.     Khờ khạo nên không biết Đàn Nam giao.
Thầy Nguyễn phú Phụng dạy tôi môn Việt văn lớp đệ thất. Thầy dáng tầm thước, hơi gầy, khuôn mặt  thanh, mắt hiền, giọng đồng vang. Giờ chính tả, Thầy đọc nhanh rõ ràng. Có bài chính tả viết một đoạn trích trong bài tùy bút” Thương vay” của Xuân Diệu tặng nhà thơ Huy Cận.
“…Con đường Nam Giao thẳng mà không bằng; tôi khởi sự đi trong ánh sáng, và tôi tới lần trong bóng tối, tợ hồ bên thành phố Huế là ngày, bên đàn Nam Giao là đêm…..”
Tôi chẳng biết cái đàn Nam giao là cái chi chi nên lúng túng, Đầu câu có chữ “ đường” vô lẽ dưới này là “đàng”, mà đàn không “G” thì trong đầu tôi chỉ có “ cây đàn”. Cuối cùng chầm chày may rủi ( năm ăn, năm thua) tôi viết đại “ đàng Nam giao”. Thầy Phụng vòng lại chữ “đàng”và chấm dấu hỏi, ý chừng Thầy muốn nói:“ Ối chà, đàn Nam Giao mà trò cũng không biết hay sao ?!”

5.     Khờ khạo nên vào Tòa Đại biểu……mét Mạ.

 Niên khóa 1958-1959, chương trình học đệ nhất cấp phân ngoại ngữ thành sinh ngữ chính ( SN1), sinh ngữ phụ (SN2), với hệ số khác nhau. Tôi chọn anh văn là sinh ngữ chính nên được trường phân qua học lớp đệ lục 2.
Năm 1959, tôi học lớp đệ ngũ 2.  Tôi ngồi bàn đầu, bên phải là Lê Thẻo, bên trái là Nguyễn văn Trợ và Lê văn Hiếu ngồi ngoài cùng sát vách. Ngay sau lưng tôi, ngồi bàn thứ 2 là Hồ đắc Nhẫn.  Nhẫn cao to, đẹp trai,  con Ông Hồ đắc Khương, là Đại biểu chinh phủ Miền Bắc Trung nguyên và Cao nguyên Trung Phần. Mặc dù là con ông lớn nhưng Nhẫn vào lớp bình dị, không kiểu cách và cũng thể hiện đẳng cấp thứ ba sau” nhất quỹ nhì ma” như đa số chúng tôi hồi đó  .
Hồi đó, cả tuần,ngoài những giờ học buổi sáng  chúng tôi còn học thêm 4 buổi chiều, trừ chiều thứ năm và thứ bảy.
                                                                                       *        *
Một buổi chiều thứ tư, trước kỳ thi đệ nhất lục cá nguyệt lần 1, sau giờ ra chơi, Trợ ghé vào tai tôi nói nhò:” Ê, thằng Nhẫn rảy mực sau lưng áo mi tề”. “Mô?”. Trợ kéo vạc sau áo của tôi cho tôi thấy, mấy đường lấm tấm mực xanh trên lưng áo trắng.
Thời đó chúng tôi không được phép dùng bút bi viết vào tập vở. Bút máy là Pilot, Parker hay bút sản xuất ở Chợ lón phải bơm mực. Bình mực pilot hình dẹp hay parker hình tròn. Về mùa lạnh mực hay bị nghẻn nên học sinh có thói quen rảy cây bút để mực chảy ra đầu bút mới viết được. Có lẻ Nhẫn vô tình rảy mực trúng phải lưng áo của tôi mà thôi.
Tôi đứng dậy xoay người lại :” Mi chơi chi lạ rứa? Rảy mực vô áo tau !”. Lẽ ra, Nhẫn ôn tồn giải thích thì tôi cũng  vui vẻ về nhà ngâm áo để giặt. Đằng này hắn cũng lên gân:” Chơi rứa đó, mi làm chi tau”. Tiện tay có quyển vở Nhẫn đang để trên bàn, tôi không kềm được, xòe tay vò quyển vở  của hắn nhàu đi. Không kém, Nhẫn chồm người lên, thò tay vào hộc bàn của tôi, kéo cái cặp đựng sách vở của tôi, ra sức xé toạt.  Tôi chưa kịp phản ứng gì thì đã nghe cái rẹt, da cặp cứng như vậy mà rách một đường dài đến tận đáy cặp.
Bạn bè trong lớp lao xao. Đúng lúc đó Thầy vào lớp.
Hai giờ học cuối trôi qua nặng nề, vì tôi ấm ức thằng bạn chơi ngang như vậy. Cái cặp là quà tặng Ba tôi mua ở hiệu giày Tân Thành, khi tôi thi đậu vào lớp đệ thất .
Khi bãi trường, mấy đứa bạn thân xúi:” Mi tới nhà hắn mét Mạ hắn đi. Chơi mà xé  cặp như ri là Mạ hắn đánh cho sưng đít. Mạ hắn nghiêm lắm”.
Tôi đang tức khí, nghe như vậy bùi tai, lên chiếc xe đạp mini thẳng đường tới Tòa Đại biểu. Đang phom phom đạp xe đi vô cổng hông Tòa Đại biểu trên đường Lê Lợi, Bác bảo vệ cổng chận xe lại:” Ê, cháu đi mô rứa”. Tôi thật thà đưa cái cặp rách cho bác coi:” Dạ, con vô mét Mạ thằng Nhẫn”. Bác cười, ôn tồn nói với tôi:”  Cháu  đi ngã ni vô thì Bác bị la liền. Cứ làm như Bác không biết, cháu đi qua ngã Viện Đại học Huế, có đường thông qua Tòa Đại biểu. Cháu dựng xe nơi vách đó, rồi leo lên cầu thang. Sát cầu thang là phòng ở của Bà Đại biểu, Bà dang ở trên phòng”.  Bác chỉ dẫn đường đi rõ ràng như vậy thì chắc là Bác cũng muốn tôi vô mét Mạ hắn.
Hành lang lầu một không có bóng ai. Chỉ một mình tôi rón rén bước. Một người đàn bà trung niên nhẹ nhàng bước ra hỏi :” Cháu tìm ai?”. Tôi đoán chừng đó là Bà Đại biểu. Bà có dáng người thanh cao, nước da trắng, khuôn mặt thanh tú, cử chỉ và giọng nói rất dịu dàng. Bà mặc bộ đồ lụa màu trằng ngà làm tăng vẽ quý phái. Hai cô gái dáng vẽ cũng thanh nhã ngồi trên giường, chắc là chi em của Nhẫn. Tôi đưa cặp sách vở cho Bà coi và nói sơ chuyện xảy ra trong lớp chiều đó. Bà có vẻ áy náy :” Bậy quá, bác la hoài mà nó không nghe. Chừ chuyện đã lỡ rồi, Bác gởi tiền để con mua cái cặp mới nghe”. Tôi vội  nói:” Không, con lên đây là để nói cho Bác biết thôi, để Bác la thằng Nhẫn, chứ không phải con muốn bắt đền”. “ Bác đền tiền mà con không chịu thì thôi, để Bác khâu  lại cho con nghen”. “ Thôi . để con về nhà khâu cũng được”.
Miệng nói, tay Bà  với lấy hộp kim chỉ để sẳn đầu giường,Không biết trong hộp kim chỉ của gia đình sao lại có cây kim dài và sợi chỉ lớn khâu da ?! Bà bắt đầu khâu lại đường rách trên cái cặp.
 Hính ảnh một Bà Đại biểu , một mệnh phụ phu nhân, ngồi trên giường tì mẫn từng đường kim mũi chỉ khâu lại cái cặp bị xe rách toạt cho bạn học của con mình là hình ảnh không ai có thể tưởng tượng nổi . Từ giờ phút đó, mãi về sau này, tôi luôn ca ngợi hết lời “người mẹ của bạn tôi”. Việc làm trông có vẽ nhỏ mọn nhưng thể hiện một con người bình dị, một tấm lòng nhân hậu bao dung, tôi gọi đó là “tâm hồn cao thượng”
Trong khi ngồi khâu cặp, Bà ân cần hỏi tôi về gia đình, chuyện học hành trong lớp. Bà nói với 2 người  con gái:” Con ra nói với chú bảo vệ, tìm thằng Nhẫn về đây gấp”. Cô gái đến bên cửa sổ nhìn ra ngoài, chợt reo lên:” Thằng Nhẫn đừng chơi ngoài công viên kìa.” “ Nói chú bảo vệ ra kêu hắn lên đây”.
Ngoài công viên nhỏ hình tam giác trước Tòa Đại biểu, hàng me bao quanh, đội kèn quân nhạc đang tập luyện những khúc quân hành. Hèn gì, tôi tới đây đã lâu,Bà Đại biểu khâu gần xong cái cặp rách mà Nhẫn vẫn chưa về tới.
Thấy tôi, Nhẫn khựng lại một chút. “ Con chơi mà ăn hiếp bạn bè trong lớp như ri há ?”.” Hắn vày vở con”.
“ Con rảy mực vô áo bạn, rồi xé cặp của bạn, coi như rứa được không ?”. Không đợi cho Nhẫn bào chữa thêm, Bà rút một cây gỗ ( tiết diện chừng 3x5 cm) thẳng tay quất vào mông Nhẫn một phát như trời giáng.
Cây gỗ gảy ngang, một nửa rơi loảng xoảng trên nền gạch bông. Tôi thất kinh, không ngờ Bà nghiêm khắc dạy con như vậy. Tôi hoảng quá, chạy đến ôm lấy tay Bà, sợ Bà đánh tiếp.” Thưa Bác, con lên đây để mét cho Bác biết chuyện để Bác la hắn chứ đừng đánh hắn , tội nghiệp”.
Trời  chiều, nắng tắt, tôi chào mọi người ra về. Nhẫn hầm hầm không ừ hử !
……………………………..
53, 55 năm đã trôi qua. Trong kiếp phù sinh, tình xưa đọng lại trong tâm tư con người ở một góc thẳm nào đó. Nhắc lại chuyện xưa ở đây, tôi muốn nói với những người bạn cùng trang lứa trung học đệ nhất cấp Quốc học  năm xưa,nay  đã đi vào thiên cổ ( Lê văn Khâm, Lê văn Hiếu, Lê Thẻo , Nguyễn đình Huyên, Nguyễn Nam….) rằng tôi luôn tưởng nhớ các bạn và cũng muốn nói với những bạn cùng lớp đang sống trên mọi miền đất nước hay đang ở nước ngoài rằng :”tôi luôn yêu mến các bạn”.
Lê Duy Đoàn.
Sài gòn, 30/11/2012.

Người giàu nhất thế giới



Người giàu nhất thế giới.
Lê Duy Đoàn.

          Tháng 2 năm 1991.Sài gòn.
          Chiều muộn 30 Tết. Trời mù, mưa lất phất.  Chỉ còn vài giờ nữa là đến giao thừa, chuyển từ năm Canh ngọ sang năm Tân mùi. Giờ này mà Nhà Thơ đang còn ngồi dưới hiên nhà đối diện nhà thờ Vườn Xoài trên đường Lê văn Sĩ, Quận Phú nhuận, Sài gòn. Cả một dảy phố nhà nhà đóng cửa hay để cửa khép hờ. Ai cũng lo chuẩn bị đón năm mới. Những xe chở rác và công nhân vệ sinh làm việc tất bật. Thói quen xã rác trở thành một thói quen xã hội rồi. Người đi đường thưa thớt mà vội vã. Đường vắng. Phố đã lên đèn.
* *
          Trên người  Nhà Thơ, không biết là bao nhiêu lớp quần áo cái nào cũng rách bươm màu sắc tếc nic co lo. Một đống giẻ rách thì đúng hơn. Dưới chân Nhà Thơ là cái mũ dạ nhàu nát. Cây gậy tre quấn một sợi dây xích rổn rảng, để bên cạnh cái túi màu xám ô liu dơ bẩn không biết thứ gì bên trong mà cái túi căng kè. Một nải chuối cau cột sợi dây nylon đủ dài để nhà thơ đeo tòn ten nơi cổ cho tiện, khỏi cầm. Tất cả mọi thứ trên người ông đều nhàu nhĩ. Chỉ riêng đôi mắt sâu, nhỏ, hơi lé mà lại rất tinh anh dù nằm sau cặp kính tròn dày cộm. Nhà Thơ cũng có tắm gội hằng ngày nhưng  tóc phủ dài xuống gáy và bện xe lại như đầu tóc Rud Gullit, lại thêm trên người bao nhiêu lớp giẻ nên trông Ông bẩn bẩn giống như người cả tháng trời không tắm gội.  Người ông nhỏ thó với khuôn mật nhăn nheo như quả trám khô tưởng chừng như không còn chỗ cho nếp nhăn chen chúc, nước da tai tái bủng beo,lại thêm áo quần trên người làm Nhà Thơ trông càng áo não. Thế mà vẻ mặt ông an nhiên tự tại, không đếm xỉa gì đến mọi việc xung quanh, mặc cho lủ trẻ nghịch ngợm chọc phá. Ông đang chìm vào quá khứ.                                                                                   
                                                            *            *
          Nhà thơ ra khỏi nhà của Ông đạo diễn họ Lê ở xóm Gà, trong hẻm 482 đường Lê quang Định, Bình thạnh từ sáng sớm. Ông mới đến trú ngụ ở đây sau cuộc rượu lu bù mà không có tiền để trả ở quán rượu Thọ nguyên bị chủ quán mắng mỏ và làm khó dễ, ông đạo diễn họ Lê trả tiền nợ và mời Ông về nhà mình ở  cho đến nay. Ở nhà thì Ông chỉ mặc một cái áo sơ mi, quần xà lỏn nhưng ra đường thì Ông lấy cái bao đồ cũ quàng hết lên người, cái bao tải đồ của nhà thơ, ông đạo diễn dặn vợ con không được đụng tới, một phần tôn trong riêng tư của nhà thơ, một phần sợ nhà thơ buồn mà bỏ đi. Dường  như nếu ra đường mà không có trang bị tận răng như thế thì không ra dáng hảo hán một tí nào?!
          Nhà thơ đi bộ xuống chợ bà Chiểu ngồi bệt bên vệ đường dựa lưng vào gốc cây phương, nhai ổ mì và ngó mông lung dòng người ta vội vã di chuyển trên đường và mua bán tấp nập hai bên đường ngày cuối năm. Chẳng ai để ý  một người điên nhưng người điên lại để ý quan sát mọi người.  Dọc đường Lê Quang Định, phía trước chợ Bà Chiểu, xe gắn máy dừng đậu bên lề đường ngã giá mua bán hoa mai và các loại hoa cúng. Những quầy bán dưa, quay lại bằng cót tre  còn dưa  nhiều lắm. Những người bán ngũ quả “cầu mãn dừa đủ xài” có nhiều khách bu đen bu đỏ.
          Nhà thơ ăn hết ổ bánh  mì, nhìn quanh một hồi cũng chán, đi tới chỗ anh xích lô quen. “Đi thôi, đại ca”.  Anh xích lô thường chở người khách đặc biệt này nên biết lối đối thoại rất dị kỳ của ông với  lối xưng hô rất ư là phiêu bồng cà rỡn. Anh hỏi lại một cách rất là phường tuồng:” Bệ hạ đi mô?”. Ngồi lên xe nhà thơ nhớ nương tử. “Tới nhà mẫu thân tao”. Đã nhiều lần chở nhà thơ đến nhà của nương tử nên anh xích lô cứ thế mà đạp qua đường Hoàng Diệu. “ Đại ca biết là tao qua nhà mẫu thân làm chi không?” Không đợi anh xích lô trả lời, nhà thơ nói tiếp” Để tao chọi hai cục đá ni vô cửa cổng, hẹn với mẫu thân sáng mai mồng một Tết, tới xông đất, xông nhà lấy hên cho mẫu thân”.
          Anh xích lô đang lo trong lòng không biết ăn nói làm sao nếu bệ hạ điên này nói như chơi mà làm thiệt , lở công an vịn ngày cuối năm thì mệt lắm. Anh đang phân vân thì nhà thơ đột nhiên đổi ý” Thôi mày ơi, tao nói chơi chứ ngày mai tao mới tới nhà mẫu thân để xông đất .Tao xông đất mà không báo trước thì chắc là nương tử thích hơn”. “Thế bây giờ bệ hạ đi đâu”. “Thôi mày đi với tao lên hội”.
          Hội là hội văn nghệ thành phố, 81 Trần Quốc Thảo, nơi tụ hội những văn nghệ sĩ thứ thiệt cũng có mà kẻ ăn theo tiếng văn nghệ cũng nhiều. Tới đây, anh đã từng được ông cho ăn nhậu bù khú đã đời cóc tía lắm phen.
          Xe xích lô chạy thẳng vô sân hội như mọi khi nhưng quán vắng ngắt, bàn ghế được dọn dẹp trống huơ trống hoắc. “Dẹp rồi à? Thôi ra chỗ mô có bán bia thì đại ca cứ tấp vô”. Bên ngoài khuôn viên hội, trên lề đường còn có một ngưới đàn bà trung niên bán muộn. Khi thấy nhà thơ bước vô, người đàn bà cung kính cúi chào “Thưa thầy” Bà đon đả kéo ghế mời. “Ờ mô mà thưa thầy hay rứa hè?” “Dạ, hồi trước con học văn khoa trường Đại học Vạn Hạnh đó thầy.” Đối với nhà thơ, hồi ức về thời gian dạy ở Đại học Vạn hạnh mơ hồ như rác duềnh lên trôi xuôi theo dòng nước còn đối với anh xích lô khi thấy người đàn bà lễ phép giữ lễ thầy trò chào con người với đống giẻ trên người thế kia thì nhìn nhà thơ với con mắt vừa ngưỡng mộ vừa ái ngại.
          Vẫn ngồi trên xích lô, vách chân chữ ngủ, mày chai tao chai, nhà thơ nhai đậu phọng uống bia với anh xích lô. Dù người đàn bà bán quán xép không chịu lấy tiền nhưng nhà thơ vẫn móc tiền trả và nói” Trẫm không muốn nợ và không muốn mắc nợ” Nói nợ là nợ tiền và mắc nợ là mắc nợ tình. Nhà thơ phân biệt chữ nghĩa hay thật.
          “Thôi mày về đi lo ba bữa Tết, sang năm gặp lại”. Nhà thơ nói với anh xích lô sau khi dúi cho anh một nắm tiền chẳng biết là bao nhiêu. Chân nam đá chân xiêu, nhà thơ đi bộ lên cầu Lê văn Sĩ. Tay chống gậy với sợi xích kêu loảng xoảng theo bước chân đi. Hai sợi xích ngày thường nhà thơ dẫn hai con chó, bây giờ chỉ còn sợi xích, không biết hai con chó đi đâu rồi. Nải chuối quàng trên cổ,  cái bị trên vai trông nhà thơ giống Bố Đãi hòa thượng quá!
          Ngồi dưới hiên nhà bên kia đường đối diện cổng trường Đại học Sư phạm đầu cầu Lê văn Sĩ, trước đây là cơ ngơi của trường Đại học Vạn Hạnh, nhà thơ vừa đưa tay chỉ vô trường vừa lầm bầm chưởi rủa .
          Những việc làm bất thường của nhà thơ đôi khi làm ông rước họa vào thân. Bị người bán hàng phụ tùng xe đạp đánh đá sưng mặt sưng mày vì lấy cái ghi-đông chơi trò lái xe, bị đám pê-đê đánh chảy máu đầu vì vào đám tang múa may quay cuồng và nhảy nhót với chúng. Có khi bị công an dẫn vô đồn vì nhảy điệu đười ươi thượng ngàn, huơ gậy điều khiển xe cộ lưu thông trên đường phố. Khi vô đồn công an hay vô bịnh viện, người ta hỏi thân nhân là ai,khi nào nhà thơ cũng nói số điện thoại và số nhà của nương tử mẫu thân. Báo hại nương tử mẫu thân hốt hoảng một phen hộc tốc tới nơi lo chăm sóc cho nhà thơ tội nghiệp.
   
                                                               *         *
          Hiên nhà trước nhà thờ Vườn xoài, đường Lê văn Sĩ.
          Ông đang chìm vào quá khứ. Những ngày cuối năm đối với ông giống như những ngày cuối đời. Những chuyện không  theo thứ tự thời gian, trở lại như phim mà phần hồi tưởng lại sắc nét một nỗi sầu nhân gian và nhân thế.
          Ông nhớ lại những tháng ngày sương khói xa xưa. Ông sờ lên vết sẹo trên trán và mơ hồ đâu đây tiếng cải vả của cha mẹ rồi người cha hầm hầm giận dữ ném ông  trúng cây đinh thủng trán. Nhớ tuổi thơ ông ở Duy xuyên xứ Quãng nam. Nhớ vô vàn những ngày lang thang chăn dê trên vùng thung lũng đồi núi Trung Phước, nuôi dê để rong chơi với đàn dê thôi chứ không bán, không làm thịt .Thương  những con dê, ông đặt cho mỗi con một cái tên. Nhớ những lạch nguồn, truông trảng. Nhớ rừng sim tím ngát,  Nhớ vô cùng người vợ đẹp và hiền hậu mà qua đời sớm cùng đứa bé sơ sinh. Nhớ những bát sữa dê đem chưng lên cho vợ uống mỗi buổi sáng. Tất cả đều trôi vào hư ảo, hư vô…
          Những đứa bé vây quanh chòng ghẹo nhà thơ đã tản mác hết rồi. Chỉ còn nhà thơ ngồi cô đơn dưới hiên nhà. Một người đàn ông dáng tầm thước trong hẻm đi ra, tìm mua một bao thuốc lá. Quanh xóm đó ai cũng biết cũng quen Ông giáo gàn. Trước đây, ông dạy các lớp Đệ nhất cấp trường Việt Anh ở Huế từ năm 1951 lận, sau này trường đổi tên thành trường Trung học Đệ nhất cấp Nguyễn tri Phương. Đi ngang trước mặt nhà thơ, ông dừng lại một chút, nhìn và suy nghĩ một chút rồi ông đến bên vổ nhẹ trên vai nhà thơ. “Này,nhà thơ, vô nhà tui uống rượu không?”. Nhà thơ như sực tỉnh: “Đi mô?” “Vô đây chút thôi, trong này”. “Đi thì đi”.
          Ông giáo gàn là người tốt bụng, cục tính và có thói gia trưởng. Ông ưa, ông làm đố vợ con hé răng bàn vô một tiếng. Thấy ông giáo gàn chiều tối 30 tết rồi mà còn dẫn về một ông nhà thơ với đống giẽ rách trên người, vợ ông là một bà giáo, con ông đã gần tốt nghiệp đại học cũng đành rút lên trên lầu chuẩn bị bàn thờ và bàn phẩm vật cúng giao thừa, để phòng khách dưới tầng trệt cho ông với nhà thơ muốn làm chi thì làm. Những tưởng ngồi chơi một chút rồi vế,ai ngờ hai người ngồi chơi tới sáng.
          Ông giáo gàn đem ra một bộ pyjama đặt trước mặt nhà thơ: “Đi tắm đi rồi ra đây nhậu”. Nhà thơ giẩy nẩy: “Không , không tắm”. Ông giáo kéo nhà thơ vào nhà tắm, lấy vòi sen xịt nước cho ướt áo quần, nhà thơ mới chịu cởi nùi giẻ rách ra tắm.
          Mặc bộ đồ ngủ còn thơm mùi long não, xịt chút eau de cologne, nhà thơ thấy dễ chịu vô cùng. Trong khi nhà thơ tắm táp, ông giáo gàn đã bày ra trên bàn ăn không biết cơ man nào là thức ăn và rượu ngoại. Chủ nhân là người hiếu khách thái quá. “Rồi, muốn ăn chi cứ ăn, muốn uống chi cứ uống, cứ tha hồ.” Ông giáo gàn mang hầu như tất cả thức ăn để dành trong tủ lạnh dùng dần mấy ngày tết ra đải khách.
          Câu chuyện giữa nhà thơ lang bạt với ông giáo gàn không đầu không đuôi.
          “Này nhà thơ, răng mà giờ ni còn lang thang ngoài đường như rứa.”
          “Rong chơi mút mùa, càn khôn túy lúy. Đó là Đạo của tui. Nói thật tình, ở nhờ nhà người ta, ba bửa Tết, đuổi mình đi thì người ta không nỡ, mình ở nhà vô ra ba bửa Tết cũng không tiện. Thôi ra ngoài đường chơi với cóc nhái ểnh ương”.
          “Ngoài quê còn ai không ?
          Giật mình lúc chợt nghĩ ra
          Rằng toàn thân thuộc đã qua đời rồi!”
          “Nghe nhà thơ nhiều mẫu thân nương tử lắm, mà họ mô rồi.”
          “Thần tiên nhan sắc đẻ ra mẫu thân nương tử, nương tử mẫu thân đẻ ra thằng tui, thằng tui đẻ ra hết thơ rồi thẩn, thơ thẩn đẻ ra cóc nhái ểnh ương, châu chấu chuồn chuồn, châu chấu chuồn chuồn lại đẻ ra cái liên tồn, lá hoa cồn, tồn lưu, cồn lau cỏ lách. Cái liên tồn lại đẻ ra thần tiên nhan sắc, cuộc tồn sinh tồn diệt mới tồn lưu. Ra sông nằm ngũ rập rình, Mẫu thân Phùng Khánh đẻ mình ra sao ? Mẫu thân nương tử mô cũng giành nhau đẻ mình ra, Phùng Khánh, Kim Cương, Marilyn, Bardot ai cũng là nương tử, ai cũng là mẫu thân, rứa mới lạ chứ.”
          “Mấy quyển sách nhà thơ viết trước đây thấy cũng hay đó chơ ?
          “Thôi, đại ca ơi, sách vở ích gì cho buổi ấy, Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già, Xuân về ngày loạn còn lơ láo, Người gặp khi cùng cũng ngất ngơ..”
          Phong ba cuộc đời cứ dồn dập, càng ngày càng nhố nhế thêm ra,tủn mủn đầu độc thêm ra, thì ưu tư khắc khoải trở thành chuyện tầm phào, siêu thị, siêu tưởng, siêu triết, trở thành chuyện đỉ điếm. Văn chương, văn nghệ trở thành chuyện bán cá ngoài chợ. Nợ tang bồng vay trả trả vay trở thành chuyện phỉnh phờ con nít. Lưu thủ đan tâm chiếu hản thanh ư? Lưu thủ đan tâm trở thành chuyện tán gái đâm toang. Chiếu hản thanh trở thành chiếu chăn mài cọ lầu xanh meo mốc…”
          “Hạnh phúc nhất là lúc mô?”
          “Trước năm 75 ,hồi đó tui ở chung phòng với thằng Thiên Thư trên lầu bốn trường Đại họcVạn Hạnh, hắn là thầy tu, mặc áo nâu sồng mà có con bồ  Như Ngọc ở mô trên Đà lạt về thăm hắn, cô ấy dễ thương ghê. Sướng nhất là khi cô vào nhà tắm, tui đi theo, tui nói với cô. Cho coi một chút thôi cô ngồi xuống đây tưới cỏ cây đi, tui nằm coi. Mát mẻ con mắt vậy mà, mai mốt cỏ trên mồ cũng mát theo. Rứa mà cô thương tui, ngồi xuống mưa nguồn rớt hột trên sàn trong khi tui nằm trong bóng tối nhai gạo lứt muối mè nhìn mưa. Đại ca nghĩ coi, ai hạnh phúc hơn tui. Tui cũng từng ngỏ lời với mấy nương tử mẫu thân của tui là mai sau tôi có xuống suối vàng vẫn mong rằng các vị… sẽ ban ân huệ mưa móc sum suê, trên nấm mồ mọc cỏ, những giọt sương trần gian sẽ dỏ hằng ngày xuống đáy huyệt cô đơn của tui”. Tui cũng từng nói với nương tử: “Kim Cương nương tử ơi, nếu tại hạ một mai chết đi, nàng hãy mưa lên nấm mồ tại hạ”
          “Mấy lâu ni có chi vui ?”.
          “Không buồn thì cũng không vui,
          Buồn vui một nửa thì tui không màng.”
          “Bình sinh nhà thơ yêu thương ai nhất?
          Nhất vợ nhì Trời, nên yêu thương bà Ninh nhất. Thứ nhì là thương con. Yêu thứ ba là những cô gái giang hồ. Giang hồ của tui là phường đỉ điếm hay không đỉ điếm cũng được miễn là những cô những bà có máu phiêu lãng phiêu bồng là được. Quẳng gánh lo đi và rong chơi dzui dzẻ Rồi tui yêu vu vơ những đàn bà tình cờ gặp gỡ ngoài đường- thường là những phụ nữ da dẻ đen thui, ngồi im lìm bên vệ đường bán mua cái gì chẳng rõ.
          “Nhà thơ làm thơ dễ như lấy đồ trong túi. Thơ để làm gì và bàn luận thế nào về thơ?”
          Thơ để cho, thơ để tặng, để chơi chứ không để làm chi cả. Thơ là cái gì không thể bàn tới, không thể dịch, diễn gì được. Người ta có thể diễn tả một trận mưa rào bằng lời thơ. Thì có lẽ muốn diễn tả một bài thơ, người ta chỉ có thể phát động một trận mưa rào, hoặc một cơn gió thu. Mà muốn thực hiện việc đó, thì ngoài việc làm thơ ra, con người không còn phép gì khác. Thế có nghĩa là: muốn bàn tới thơ, diễn dịch thơ, người ta chỉ có thể làm một bài thơ khác. Người xưa am hiểu sự đó, nên họ chỉ vịnh thơ, chứ không bao giờ điên rồ gì mà luận bàn về thơ. Người đời nay trái lại, họ buộc phải luận thơ cho có mạch lạc luận lý. Cái chỗ ngu si đó là điều bất khả tư nghị vậy."
……
          Cứ như vậy, hỏi đáp , đáp hỏi giữa nhà thơ và ông giáo gàn  cho tới khuya. Bà giáo thỉnh thoảng đi xuống lầu gây ra vài tiếng động ý chừng nhắc khéo ông giáo gàn tiển khách sợ rằng ông khách điên khùng này ở lại đạp đất thì xui xẻo cả năm. Ông giáo gàn chẳng để ý chi đến thời gian trôi qua và bà giáo chuẩn bị cúng giao thừa.
          Chai rượu Henessy XO ông giáo gàn để dành trong tủ rượu từ trước 75, hai người chén chú chén anh cho đến giọt cuối cùng thì nhà thơ cũng oắt cần câu túy lúy. Ông giáo gàn còn đủ sức dìu nhà thơ đến nằm dài trên ghế nệm salon, còn ông giáo nằm trên ghế bố . Cả hai làm một giấc quên đời. Bà giáo cúng giao thừa xong, xuống coi lại cửa nẻo, lắc đầu ngán ngẩm cái ông chồng ngang không chịu được.
          5 giờ sáng mồng một Tết. Chuông nhà thờ Vườn xoài đổ từng hồi báo lễ sớm. Ông giáo gàn thức dậy pha trà và chế cà phê, dọn ra bàn một cái bánh chưng cắt sẵn. Chuẩn bị xong, ông đánh thức nhà thơ dậy. Rửa mặt đánh răng qua loa, nhà thơ ra bàn ăn ngồi uống nước trà và cà phê ăn sáng mà không nói với nhau một lời nào. Trong cái tỉnh lặng thiêng liêng của sáng mồng một Tết, nhà thơ cảm nhận sâu sắc cái tình lạ lùng của ông giáo trong cuộc tao phùng lạ lùng đêm 30 Tết vừa qua, cuộc tao phùng ngẫu nhiên, ngẫu nhỉ mà chén tương phùng mát dạ dường bao.
          Nhà thơ tiện tay xé một tờ lịch đầu năm, lấy bút hí hoáy viết mấy câu lục bát chữ to và nghiêng ngã.
          Uống xong ly rượu cuối cùng,
          Bổng nhiên chợt nhớ đã từng đầu tiên,
          Uống như uống nước ngọc tuyền,
          Từ đầu tiên mộng tới phiền muộn sau,
          Uống xong ly rượu cùng nhau,
          Hẹn rằng mai sẽ quên nhau muôn đời.
*          *


          Bước ra trước cổng, cầm tay ông giáo gàn, nhà thơ trịnh trọng nói với ông giáo:
          “Nói thật với Đại ca, Đại ca đừng giận. Tui không biết Đại ca là ai nhưng tui biết chắc chắn một điều:
          “Đại ca là người giàu nhất thế giới”.



Lê Duy Đoàn,
Sài gòn, 31/12/2012


_________________________________________________________________
Lời thêm:
Truyện ni dựa trên những tình tiết thật. Mong nhưng ngưới có liên quan lượng thứ nếu có điều khiếm khuyết ngoài ý muốn của tác giả. Lời cuối khi chia tay Thầy Văn là nguyên văn lời nói của Bùi Giáng.
Nhân vật thật:
1.      Nhà thơ : Bùi Giáng.
2.      Ông giáo gàn: Thầy Nguyễn Văn, dạy Việt văn và Pháp văn trường Trung học Việt Anh, sau này là trường Trung học Đệ nhất cấp Nguyễn tri Phương ở Huế. Thầy dạy từ những năm đầu thập niên 50.
3.      Bà giáo: Cô Bạch Hạc, dạy trường Nữ Trung học Đồng Khánh.
4.      Mẫu thân Phùng Khánh: cách gọi của Bùi Giáng tôn xưng Ni sư Trí Hải.
5.      Nương từ, mẫu thân Kim Cương: cách gọi của Bùi Giáng tôn xưng Nghệ sĩ Kim Cương.
6.      Đạo diễn họ Lê: Ông Lê Trác, hảng phim Giải phóng.
7.      Phan thị Như Ngọc:Tự truyện “ Ba ngày với Bùi Giáng”